Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

PHỎNG VẤN (1)

HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC “VA CHẠM”
VỚI TUỔI THƠ
Kim Ngân thực hiện
(TUỔI TRẺ CUỐI TUẦN 7/9/2014)
         


Gặp nhà văn Nguyễn Thái Hải khi ông vừa từ Singapore trở về trong chuyến đi giúp ông “thu thập những tư liệu tuyệt vời”. Trước chuyến đi, ông đã kịp tặng hàng trăm bản hai tác phẩm mới in trong năm của mình (Tập truyện đồng thoại Hai con diều bay thấp và Khu vườn hạnh phúc) cho trẻ em vùng sâu vùng xa Đồng Nai.

CÓ THỂ LỖI KHÔNG NẰM Ở CÁC EM

          Tác phẩm của ông được nhiều thế hệ thiếu nhi yêu thích. Vậy, điều khó nhất khi viết cho thiếu nhi là gì?

          Điều khó nhất khi viết cho thiếu nhi là để các em chấp nhận đó là tác phẩm viết cho thiếu nhi, chứ không phải của người lớn. Người ta hay nhầm lẫn và dùng từ thiếu nhi cho cả lứa tuổi mới lớn, cận kề thanh niên. Theo tôi không đúng. Tôi phân biệt rõ: nhi đồng (6-10 tuổi), thiếu niên (11-15 tuổi) và mới lớn (16 - 18). Mỗi lứa tuổi có nhận thức khác nhau. Tôi thường chọn viết cho các em từ 6-15 tuổi và tùy lứa tuổi để chọn những hình thức phù hợp.
          Tôi không có cách nào khác hơn là tiếp cận với các em. Khi chơi với các cháu, tôi hiểu phần nào. Ngôn ngữ của chúng rất “ngộ”. Khi không “chơi” với các em ở lứa tuổi đó, người viết dễ bị “chìm” vào lứa tuổi của mình và không thoát ra được. Một đôi khi, tôi có thể viết về tuổi đó vào thời của tôi, hoặc hóa thân hoàn toàn vào các em hiện tại. Các em có những câu chuyện khác nhau.

          Đâu là sự khác biệt giữa nhu cầu đọc, nhu cầu tìm thấy thế giới của mình giữa thiếu nhi cách đây nhiều năm với hiện tại?

          Khác rất nhiều. Thiếu nhi 10 hay 20, thậm chí 30 năm về trước khá thiếu thốn trong điều kiện sống, và do đó nhu cầu đọc của các em cũng khác. Các em chỉ cần có trong tay vài quyển sách đã rất quý, rất yêu. Ngày ấy, tôi viết khoảng 50 truyện ngắn trong tờ báo thiếu nhi Tuổi Hoa, văn chương đơn giản, ngây ngô, nhưng độc giả nhí vẫn mê. Ngày nay viết cho các em khó hơn nhiều, nhất là khi đặt văn chương trong bối cảnh đời sống hiện đại đã đổi khác quá nhiều.

CUỘC SỐNG MUÔN MÀU (4)

Người hùng của trận bóng đá U 19 Việt Nam - U 19 Australia (19g ngày 5/9/2014 / Giải U 19 Đông Nam Á mở rộng):
Nguyễn Công Phượng!

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

CUỘC SỐNG MUÔN MÀU (3)

Không gian kiến trúc Sài Gòn

rồi sẽ ra sao

 


Sài Gòn (TP.HCM) của những năm đầu thế kỷ 21 đã thay đổi diện mạo quá nhiều khiến chúng ta không khỏi giật mình khi nhìn lại và so sánh với những hình ảnh Sài Gòn xưa... Những ngày tháng 8.2014 này, người dân lại chộn rộn với sự kiện tuyến metro ngầm đầu tiên (có giá trị hơn 2,5 tỉ USD) chính thức xâm phạm đến con đường trung tâm nhất của thành phố... Phải chăng đây là cái giá phải trả cho sự phát triển đô thị khi không thể giữ mãi "chất" của một hình hài cũ trong sự thay đổi lớn về "lượng" của sự bùng nổ đầu tư và nhu cầu thực tế về áp lực giao thông đô thị, mà đặc biệt là ở khu trung tâm của thành phố...
Vị trí nhà ga metro hiện nay là trung tâm của trung tâm TP.HCM. Hình ảnh của không gian kiến trúc ở đây luôn gắn liền với lịch sử 300 năm hình thành và phát triển của thành phố này. Để xây dựng tuyến metro ngầm này, người ta sẽ phải dọn sạch những góc phố, những tòa nhà, những hàng cây cổ thụ lâu năm... đã ăn sâu vào tâm thức người Sài Gòn.
Con người có thể tạo ra dấu ấn của mình nơi này chốn nọ, nhưng các nơi chốn còn tác động đến con người thâm sâu gấp bội. Đó là những mảng xanh, công trình kiến trúc, hay ngay những khoảng không cũng ngấm vào những ai thường xuyên tiếp cận nó, và từ từ uốn nắn, đắp bồi nhân cách họ. Vì thế, sẽ không sai khi nói rằng không gian kiến trúc của Sài Gòn đã tạo nên đặc tính của thành phố và con người nơi đây.
Trong sự phát triển ồ ạt của đô thị ngày hôm nay, người dân TP đã chứng kiến một loạt sự thay đổi lớn diện mạo không gian kiến trúc khu trung tâm này. Những sai lầm về cấp phép xây dựng mới những công trình đầu tiên như khách sạn Caravel, Sheraton... khiến chúng trở nên lạc lõng và thô thiển trong quần thể kiến trúc cũ... Có lẽ cũng vì thế mà những công trình xây dựng sau này như tâm thương mại Vincom, tòa nhà Opera View… đã được đặt trong một sự ứng xử với cảnh quan xung quanh có phần đúng mực hơn. Người dân Sài Gòn vì thế vẫn còn thấy được sự gần gũi và chút gì đó phảng phất hình ảnh cũ của không gian Sài Gòn xưa.
Tuy nhiên, việc thương xá TAX lịch sử, cổ kính sẽ bị thay thế chóng vánh bằng một cao ốc phức hợp 40 tầng đang làm những ai đã trót quyến luyến với những gì xưa cũ của Sài Gòn dễ bị "sốc". Nếu xét trên phương diện kiến trúc đô thị cũng như chủ trương phát triển đô thị bền vững của TP.HCM, việc hình thành một tòa cao ốc đồ sộ ở vị trí này quả có nhiều bất hợp lý.

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

DỌC ĐƯỜNG VĂN (2)

Công bố giải thưởng văn học

lâu đời nhất nước Anh



Harvest là tựa đề cuốn tiểu thuyết đoạt giải của nhà văn Jim Crace. Câu chuyện kể về một ngôi làng cổ người Anh đã phát triển kinh tế bằng cách phá vỡ những hình thức sở hữu đất đai truyền thống.
Thẩm phán giải thưởng, ông Lee Spinks cho biết: “Trong Harvest, Jim Crace phản ánh một cách tuyệt vời, trữ tình về bản chất của các di sản văn hóa, nghĩa vụ và trách nhiệm của cộng đồng trong một thế giới đang dần thay đổi”.
Ông cũng cho biết thêm: “Đây là cuốn tiểu thuyết xứng đáng được xếp hạng một trong những cuốn sách tuyệt vời nhất của nhà văn, có nghĩa nó có thể coi là thành tựu văn học đương đại đặc biệt viết bằng tiếng Anh”.
Tôn trọng học thuật, nhà phê bình văn học, cây bút viết tiểu sử, giáo sư Dame Hermione Lee giành giải văn học lâu đời với cuốn sách Penelope Fitzgerald: A Life.

TÁC GIẢ TÁC PHẨM (2)

Trang Thế Hy giữa đắng và ngọt

 

Hà Đình Nguyên

 

Người viết đã từng được gặp nhà văn Trang Thế Hy vài lần ở đám giỗ nhà văn Sơn Nam (Tiền Giang) hoặc ở tư gia của ông (Bến Tre), có cảm giác nhà văn rất kiệm lời.


Nhà văn biết cách im lặng
Những lần gặp ông trong đám giỗ nhà văn Sơn Nam, tôi thường thấy chú Tư Sâm (tức nhà văn Trang Thế Hy) ngồi cùng bàn với nhà thơ Kiên Giang và “anh Năm” Nguyễn Quang Sáng. Anh Năm thua chú Tư Sâm gần 10 tuổi cộng với ngoại hình thấp đậm, da dẻ hồng hào nên trông có vẻ tráng kiện hơn. Chú Tư thân hình gầy đét, đi đứng phải có người dìu… Vậy mà, anh Năm “đi” trước…
Sau nhiều ngày tháng chuẩn bị, NXB Trẻ tình cờ chọn ngày 20.7.2014 để làm lễ “ký kết tác quyền trọn đời” với nhà văn Trang Thế Hy (90 tuổi). Khi chúng tôi cùng đoàn của NXB Trẻ đến tư gia của ông (khu phố 1, P.Phú Tân, TP.Bến Tre) thì đã thấy họa sĩ Lê Triều Điển và vợ ông (nhà thơ - họa sĩ Phạm Thị Quý), các nhà thơ: Ý Nhi, Trần Hữu Dũng, Lynh Bacardi, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Tiến Văn, nhà văn Ngô Thị Kim Cúc, họa sĩ Vũ Hà Nam… đang quây quần ở đó. Lại nghe nhà văn Cao Xuân Sơn đang cùng đoàn NXB Kim Đồng trên đường xuống đây. Sao cụ già 90 tuổi này có sức hấp dẫn đến vậy?
Nhớ hôm gặp ông Tư Sâm lần trước, ông ngồi bần thần nhìn ra vuông sân nhỏ, nơi có những con chim sẻ vụt sà xuống, nhảy nhót rồi bay đi. Ông nói: “Nhiều khi mơ ước được như mấy con chim nhỏ bé kia, mà cũng không được…”. Nghe ông nói mà cám cảnh, hiểu được thế nào là giai đoạn “lực bất tòng tâm”. Vậy mà, sáng ngày 20.7 ấy, ông rất vui, chuyện vãn rất sôi nổi, và… đọc thơ tiếng Pháp ro ro. Một đồng nghiệp hỏi (để thử) chú có quan tâm đến những tài năng văn học hiện nay. Ông trầm ngâm giây lát rồi nói: “Gần đây có Nguyễn Ngọc Tư gọi tóc là “những sợi máu khô”, tôi cho đó là tài năng...”. Rồi ông đọc thơ của Bùi Giáng (sợ chúng tôi ghi không kịp, ông đọc chậm và nhắc chừng “xuống hàng”): “Con chim thì ta biết nó bay (xuống hàng). Con cá thì ta biết nó lội (xuống hàng). Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ (xuống hàng). Còn thơ là gì, ấy là điều ta không biết!”. Ông Tư Sâm còn trích dẫn câu danh ngôn (của một vị thánh Hồi giáo): “Con người chỉ mất hai năm để học nói nhưng phải mất đến hơn sáu mươi năm để học cách im lặng”, và giải thích thêm: “Học cách im lặng không phải là suốt đời im lặng. Học cách im lặng là để biết khi nào không thể im lặng”. Quả là một nhà văn rất kiệm lời của những lần gặp trước tan vèo đâu mất, trước mặt tôi bây giờ là một nhà hiền triết với những trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời.

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

TÁC GIẢ - TÁC PHẨM (1)

Cha tôi - nhà văn Lan Khai

LAN PHƯƠNG

LTS: Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm Bính Ngọ 1906 ở Tuyên Quang, song lại có gốc gác dòng họ Nguyễn ở Huế. Ông nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm 1930 - 1945, được mệnh danh là “nhà văn đường rừng”, để lại hàng trăm tác phẩm văn học, trong đó có gần 50 cuốn tiểu thuyết.
 Tư tưởng bao trùm sáng tác của ông là yêu thương thiên nhiên và con người, tinh thần chống đế quốc phong kiến áp bức bóc lột, đại đoàn kết dân tộc… Ông mất khi mới 39 tuổi sau một cái chết có nhiều uẩn khúc. Một thời gian dài di sản của ông bị khuất lấp, phải đến năm 2006, khi Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Lễ kỉ niệm 100 năm sinh Nhà văn Lan Khai và Hội thảo “Lan Khai với văn học Việt Nam hiện đại”, nhiều vấn đề mới được sáng tỏ. Ông được đánh giá là một nhà văn yêu nước và có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam.
Sông Hương vừa nhận được bản thảo một số chương trong cuốn hồi ký về nhà văn Lan Khai do người con trai là ông Lan Phương viết và gửi đến. Được sự đồng ý của ông Lan Phương, Sông Hương xin giới thiệu một số chương của cuốn hồi ký trong số báo này và số báo sau. Do trang báo có hạn, chúng tôi phải lược đi một số đoạn so với bản gốc. Chương hồi ký dưới đây là chương III, có tên là “Sự nghiệp văn chương và đời thực của Nhà văn Lan Khai”, Tòa soạn sửa lại tiêu đề “Cha tôi, Nhà văn Lan Khai”.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


Năm 1926, là những năm tháng cuối cùng ở Trường Bưởi, cha tôi tham gia tổ chức cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên ở Hà Nội, nhân đám tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh. Sau đó, ông bị nhà trường của Chính phủ bảo hộ Pháp bắt và đuổi học, với tội danh “Nguyễn Đình Khải dính líu vào quốc sự”. Ông lại tìm đường vào học Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, nhưng luôn bị kẻ thù theo dõi. Trở về quê hương, ông tiếp tục tham gia vào tổ chức bí mật chống Pháp của lãnh tụ Nguyễn Thái Học. Hoạt động được một thời gian ngắn, ông bị mật thám phát hiện và bị bắt giam ở Hỏa Lò - Hà Nội. Sau khi ra tù, ông trở lại Tuyên Quang, nơi quê hương sinh ra và lớn lên để cùng những người thân đang ở đó. Bước đầu Nguyễn Đình Khải cầm bút để thử nghiệm về học lực và tài năng đặng khẳng định con đường văn nghiệp của mình. Ông lập một nhà sách riêng, đêm ngày tự học và tiến hành nhiều cuộc hành trình khắp nơi trong nước. Rồi những kết quả đã không phụ công đèn sách, rèn tập nghiệp nghề của ông...
Mùa thu năm 1928, ông bà sinh ra tôi, năm ấy là năm Mậu Thìn, ông nội liền đặt cho tôi cái tên Nguyễn Đinh Phượng cũng là cái mốc, cha tôi có tiểu thuyết đầu tay gửi về Hà Nội, gia nhập làng văn bút Hà Thành (Theo các ông Nguyễn Tuân và Ngọc Giao cho gia đình tôi biết: Trước đó Lan Khai đã có một số bài viết cho An Nam Tạp Chí, Đông Pháp, Đông Tây, nhưng chúng tôi chưa sưu tầm được). Đó là cuốn: Nước Hồ Gươm được in thành sách do nhà xuất bản Nguyễn Kính - Hà Nội phát hành. Tiếp đến là các cuốn: Cô Dung, Liếp li, Lẩn sự đời, Chế Bồng Nga, Lầm than và Chuyện lạ đường rừng... do nhà xuất bản Hương Sơn, Tân Dân... xuất bản. Tiếp đến là tiểu thuyết Mực mài nước mắt do nhà xuất bản Đời Mới in. Trong khoảng thời gian ngắn, ông đã liên tiếp cho ra đời một loạt các tác phẩm cuốn nào cũng được các nhà in chào đón, được bạn đọc cổ vũ nồng nhiệt, nhất là những truyện đường rừng. Tên tuổi của Lan Khai nổi tiếng như cồn.
Sau gần nửa thế kỷ, tên tuổi Lan Khai vắng bóng trên văn đàn cả nước, bởi cái chết bất ngờ do tên côn đồ gây ra. Lan Khai mất người, mất cả tên tuổi, chỉ còn lại trên đời nỗi đau khổ triền miên ám ảnh vợ con ông. May thay sau 58 năm biệt tích, nhờ những người tốt bụng, gia đình Lan Khai đã tìm ra sự thật về cái chết của ông. Ngày 26/7/2006, Hội Nhà văn Việt Nam đã làm Lễ kỷ niệm 100 năm sinh nhà văn Lan Khai, khi những người gần gũi với ông đã ra đi gần hết. Đến dự Lễ kỷ niệm ông, chỉ còn lại một số nhà văn thế hệ nối tiếp ông như Vũ Tú Nam, Nguyễn Xuân Sanh... mà tôi đã gặp. Cách đây không lâu trên dưới 30 năm có một số người bạn văn bút với Lan Khai như Ngọc Giao, Nguyễn Vĩ, Hồ Dzếnh, Nguyễn Tuân, Trương Tửu, Trinh Đường, Học Phi... còn kể tường tận về cha tôi, đôi khi các ông còn liên lạc thăm hỏi mẹ tôi và chúng tôi.

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

Nghiên Cứu - Phê bình & Vấn đề Văn học (1)

Di cư ngôn ngữ
ở nhà văn đương đại

INRASARA

Nhà văn sống nhờ, trong và qua ngôn ngữ dân tộc. Ngược lại, sinh mệnh ngôn ngữ dân tộc tùy thuộc nhiều vào sự ưu tư, chăm sóc của người sáng tác văn học. Toàn cầu hóa, nhiều sinh mệnh ấy đang bị đe dọa, ở đó một trong những nguyên do chính yếu xuất phát từ chính nhà văn - qua cuộc di cư ngôn ngữ của họ. 
Hơn trăm năm qua, biến động chính trị quốc tế kéo theo chuyển di lớn về dân cư, cuộc chuyển di chủ yếu từ các nước thuộc thế giới thứ ba đến các nước phát triển, từ đó ở Âu - Mỹ nảy sinh luồng văn học di dân; từ cố quốc nó được đặt tên là văn học hải ngoại. 
Nhà văn rời bỏ quê hương cư trú đất nước khác luôn nuôi hi vọng trở lại cố quốc khi thời cuộc thay đổi. Thường thì ở thế hệ thứ nhất, do còn vương vấn với quê nhà hay chỉ thuần trở ngại về ngôn ngữ, nhà văn chỉ viết bằng tiếng mẹ đẻ. Đối tượng tác phẩm họ nhắm đến luôn là nhóm độc giả văn học trong cộng đồng di cư nhỏ bé và đồng bào còn “mắc kẹt” ở quê nhà. Nhà văn trở thành nhà văn lưu đày, lưu đày trong ngôn ngữ và trong văn chương.
Bạn trách tôi mất thời giờ cho thơ tiếng Chăm
có bao lăm kẻ đọc? rồi sẽ còn ai nhớ?
nhưng tôi muốn lãng phí cả đời mình cho nó
dù chỉ còn dăm ba người 
        dù chỉ còn một người 
                  hay ngay cả chẳng còn ai!
(Inrasara, Tháp nắng, 1996) 
Thế rồi khi tình trạng lưu vong kéo dài, thời cuộc đã không chuyển biến theo ý nguyện thì nhà văn tự mình buộc phải thay đổi. Họ bắt đầu nghĩ đến đối tượng độc giả nơi đất nước họ đang lưu dung, và thử ngòi bút bằng ngôn ngữ mới. Đó là điều khó khăn ít ai vượt qua được. Sang thế hệ một rưỡi, người viết có thể thoải mái hơn trong chọn lựa ngôn ngữ thể hiện: hoặc bằng tiếng mẹ đẻ hoặc bằng ngôn ngữ của nước sở tại (thường là tiếng Anh hay Pháp) hay cả hai. Đến thế hệ thứ hai trở đi, đại đa số nhà văn di cư viết bằng ngôn ngữ văn học dòng chính. Ở đây xảy ra tình trạng di cư ngôn ngữ hàng loạt. 
Isabelle de Courtivron viết trong “Sống trong dịch thuật: Nhà văn song ngữ nói về cá tính và sáng tạo” (Lives in Translation: Bilingual Writers on Identity and Creativity): Một cộng đồng văn chương mới đã được hình thành và thúc đẩy, bằng sự “nhập cư, công nghệ, chủ nghĩa hậu thực dân và toàn cầu hóa”, các thế lực hùng mạnh đã “xóa bỏ ranh giới và đẩy mạnh chuyển động đa văn hóa”.
Từ đây, khái niệm văn học hải ngoại và văn học di dân biến mất. Thế hệ văn học di dân nhường chỗ cho thế hệ mới, trẻ hơn và quyết đoán hơn.

Thử điểm danh vài tên tuổi nhà văn di cư ngôn ngữ đương đại.
Nhà văn Bosnia Aleksandar Hemon, bị mắc kẹt ở Chicago khi chiến tranh nhấn chìm thành phố quê hương Sarajevo của ông, đã tiếp cận với tiếng Anh ở tuổi 27. Bằng nỗ lực phi thường để vượt qua trở ngại ngôn ngữ, tác giả của Câu hỏi của Bruno và Dự án Lazarus được coi là một phù thủy đầy phong cách, tự sáng tạo ra tiếng Anh cho chính mình. Yiyun Li đến Hoa Kỳ với vốn tiếng Anh ít ỏi để nghiên cứu Miễn dịch học tại Đại học Iowa, nhưng chỉ sau thời gian không dài, “tác giả cuốn tiểu thuyết thứ ba bằng tiếng Anh: Tốt hơn cả cô đơn xuất bản vào tháng 2/2014 là nhà văn đương đại gốc Hoa được người Mỹ biết nhiều nhất, có lẽ” (William Grime, “Di cư ngôn ngữ ở nhà văn”, The NewYork Times, 25-4-2014). 

Còn Việt Nam 

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

THƯ GỬI BẠN BÈ (2)

ĐÃ GỬI ĐẾN BẠN VĂN KHẮP NƠI GÁC VĂN SỐ 76 

MỤC LỤC GÁC VĂN SỐ 76 


DỌC ĐƯỜNG VĂN
f Khi đại gia làm... thơ – TIỂU QUYÊN
f Hội nghị tiểu thuyết khoa học viễn tưởng thế giới năm 2014
f NXB Kim Đồng mua độc quyền tác phẩm của NV Vũ Hùng
f Vĩnh biệt nhà văn Anh Đức
f Công bố giải thưởng cuộc thi  Văn học Tuổi 20 lần 5
f Trao giải cuộc thi viết văn bia về nữ tướng Nguyễn Thị Định
f UBND Thị xã Long Khánh phát động cuộc thi sáng tác VHNT chào mừng 40 năm ngày giải phóng

PHỎNG VẤN
f Dẹp linh vật ngoại lai: Muộn còn hơn không! (Phỏng vấn Ô. Dương Trung Quốc)
f Nhà thơ Bằng Việt: Giữa Hà Nội vẫn có... người Hà Nội – SƠN TÙNG thực hiện

NGHIÊN CỨU – PHÊ BÌNH – VẤN ĐỀ VĂN HỌC 
f Tuyệt phẩm ra đời ở đâu? – THANH HÀ
f “Bà tám” từ đâu ra? – AN CHI
f Cảm ơn nhân vật của tôi – NGUYỄN TRÍ